Luật sư tư vấn

Tôi là người Việt Nam định cư ở Pháp, cuối năm nay sẽ hồi hương về Việt Nam. Hiện, tôi đã được nước sở tại cấp bằng lái xe. Xin các bạn tư vấn: Ở Việt Nam, tôi có thể sử dụng bằng này được không?

Bằng lái xe của nước ngoài có được dùng ở VN?

Tôi là người Việt Nam định cư ở Pháp, cuối năm nay sẽ hồi hương về Việt Nam. Hiện, tôi đã được nước sở tại cấp bằng lái xe. Xin các bạn tư vấn: Ở Việt Nam, tôi có thể sử dụng bằng này được không?

Hay bắt buộc phải đổi bằng lái xe của Pháp lấy bằng lái xe Việt Nam mới được lái xe? Nếu được thì phải làm những thủ tục gì? Hồ sơ phải nộp ở đâu?

Rất mong nhận được tư vấn của các bạn.

Vũ Hoàng

Xin tư vấn ngắn

Theo Khoản 5 Điều 20 Quyết định số 54/2007/QĐ-BGTVT, ngày 07/11/2007 của Bộ Giao thông Vận tải, ban hành Quy chế quản lý sát hạch, cấp giấy phép lái xe cơ giới đường bộ (Quyết định 54/2007/QĐ-BGTVT): người Việt Nam cư trú ở nước ngoài có giấy phép lái xe không do Việt Nam cấp nếu có nhu cầu lái xe ở Việt Nam phải làm thủ tục đổi sang giấy phép lái xe (GPLX) tương ứng của Việt Nam.

Thủ tục đổi GPLX được quy định tại Điều 17, 22 Quyết định 54/2007/QĐ-BGTVT; Quyết định số 4224/QĐ – UBND ngày 22/9/2006 về việc khám sức khoẻ lái xe ôtô; Công văn số 119/CĐBVN – QLPTNL ngày 09/01/2008 của Cục Đường bộ Việt Nam.

Văn phòng Luật sư Bach Đạt và Cộng sự

Chung tiền mua đất, ai được đứng tên sổ đỏ?

Tôi hùn vốn với 4 người bạn mua một miếng đất. Nhưng sau khi mua và làm thủ tục chuyển nhượng thì chỉ có một người được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Sau đó, người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất làm hợp đồng xác nhận về việc hùn vốn mua miếng đất này (hợp đồng tay) và đưa cho 4 người còn lại ký tên.

Xin cho hỏi việc làm hợp đồng như vậy có được không? Nếu có tranh chấp xảy ra thì 4 người kia có được đòi lại tiền đã hùn vốn không?

Rất mong được giải đáp thắc mắc, tôi xin cám ơn.

Ngọc Châu

Theo quy định của pháp luật dân sự, hợp đồng xác nhận về việc góp vốn mua đất giữa những người góp vốn, dù là bản viết tay nhưng vẫn có thể được công nhận là hợp pháp nếu bảo đảm được các quy định của pháp luật.

Điều 388 Bộ luật dân sự năm 2005 (BLDS) quy định: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.

Về mặt hình thức,“hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định. Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó” (khoản 1, khoản 2 Điều 401 BLDS).

Trong trường hợp này, hợp đồng góp vốn để nhận (mua) quyền sử dụng đất đã thể hiện ý chí thỏa thuận giữa các bên và không thuộc trường hợp bắt buộc phải được công chứng, chứng thực. Do vậy, nếu không vi phạm các quy định của pháp luật làm cho giao dịch dân sự đó bị vô hiệu (do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội; do giả tạo; do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện; do bị nhầm lẫn; do bị lừa dối, đe dọa hoặc do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình – Điều 128 đến Điều 133 BLDS) thì hợp đồng viết tay giữa các bên được coi là hợp pháp.

Trong trường hợp có tranh chấp xảy ra, để xác định bản hợp đồng viết tay nêu trên có đủ cơ sở để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho những người góp vốn còn lại không đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì cần phải xét đến nhiều yếu tố.

Trước hết, trong nội dung đã thỏa thuận tại hợp đồng viết tay nêu trên có thể hiện rõ ràng việc mọi người cùng góp vốn để nhận (mua) quyền sử dụng đối với mảnh đất mà một trong các bên đã đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay không?

Bên cạnh đó, trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chủ sử dụng cũ và người được cử ra giao dịch có quy định cụ thể bên mua là một cá nhân đại diện cho nhiều cá nhân cùng góp vốn mua không? Ngoài ra, còn có thể căn cứ vào các giấy tờ, tài liệu khác có liên quan như giấy giao, nhận tiền giữa các bên góp vốn cho người được cử ra giao dịch…

Nếu nội dung các giấy tờ liên quan đến giao dịch nói trên đã thể hiện rõ việc nhiều người cùng góp vốn nhận (mua) quyền sử dụng đất thì khi tranh chấp xảy ra, các bên góp vốn sẽ có căn cứ để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình đối với phần giá trị đã đóng góp.

Trong trường hợp những giấy tờ nói trên không thể hiện hoặc thể hiện không rõ nội dung cùng góp vốn mua quyền sử dụng đất thì các giấy tờ này vẫn được sử dụng cùng các chứng cứ, tài liệu khác để làm cơ sở cho việc giải quyết tranh chấp.

Tóm lại, nếu “hợp đồng xác nhận về việc hùn vốn mua đất” (hợp đồng góp vốn) đáp ứng đầy đủ các quy định của pháp luật và thể hiện rõ nội dung cùng góp vốn để nhận (mua) quyền sử dụng đối với mảnh đất do một người đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, những người góp vốn nhưng không đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ có nhiều khả năng được hoàn trả lại phần giá trị đã góp nếu có tranh chấp xảy ra.

Tuy nhiên, để hạn chế tranh chấp có thể phát sinh thì giải pháp tốt nhất là tất cả những người góp vốn cần liên hệ Văn phòng công chứng nơi có mảnh đất để lập một văn bản thỏa thuận, trong đó xác định rõ việc 5 người cùng góp vốn nhận (mua) quyền sử dụng đất, mảnh đất đó thuộc quyền sử dụng chung của cả 5 người, sau đó nộp văn bản thỏa thuận được công chứng và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến UBND cấp huyện, quận (nơi có đất) để làm thủ tục đổi lại giấy chứng nhận.

Văn phòng Luật sư Bách Đạt và Cộng sự

 

Người ở nước ngoài được nhận chuyển nhượng nhà, đất tại VN

“Người Việt Nam định cư ở nước ngoài cư trú tại Việt Nam từ 3 tháng trở lên và thuộc một trong các đối tượng được quy định tại Luật Nhà ở thì có thể nhận chuyển nhượng nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam”.

Thời gian gần đây, ngày càng có nhiều người Việt Nam định cư ở nước ngoài về nước thăm thân nhân và đầu tư, có nhu cầu sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam. Pháp luật hiện hành cũng đã có nhiều quy định để đáp ứng nhu cầu chính đáng đó.

Theo quy định tại Điều 121 Luật Đất đai năm 2003, Điều 126 Luật Nhà ở năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật Nhà ở và Điều 121 của Luật Đất đai ngày 18/6/2009, có hiệu lực từ ngày 1/9/2009 thì người Việt Nam định cư ở nước ngoài có quyền sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam để bản thân và các thành viên trong gia đình sinh sống tại Việt Nam nếu được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho phép cư trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên và thuộc một trong các đối tượng sau đây:

– Người có quốc tịch Việt Nam;

– Người gốc Việt Nam thuộc diện người về đầu tư trực tiếp tại Việt Nam theo pháp luật về đầu tư; người có công đóng góp cho đất nước; nhà khoa học, nhà văn hoá, người có kỹ năng đặc biệt mà cơ quan, tổ chức của Việt Nam có nhu cầu và đang làm việc tại Việt Nam; người có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam sinh sống ở trong nước.

Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các đối tượng trên có quyền sở hữu (không hạn chế số lượng nhà ở tại Việt Nam) thông qua hình thức mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế, đổi nhà ở hoặc được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở trong dự án phát triển nhà ở của các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản (đối với dự án tại các khu vực được phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất dưới hình thức bán nền theo quy định của pháp luật về đất đai) để người mua xây dựng nhà ở cho bản thân và các thành viên trong gia đình tại Việt Nam, nếu có các giấy tờ chứng minh dưới đây:

  1. a) Đối với người có quốc tịch Việt Nam thì phải có hộ chiếu Việt Nam còn giá trị; trong trường hợp mang hộ chiếu nước ngoài thì phải có một trong các giấy tờ chứng minh còn quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật về quốc tịch;
  2. b) Đối với người gốc Việt Nam thì phải có hộ chiếu nước ngoài kèm theo giấy tờ xác nhận là người gốc Việt Nam do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp để chứng minh có gốc Việt Nam.

– Người về đầu tư trực tiếp tại Việt Nam theo pháp luật về đầu tư có Giấy chứng nhận đầu tư hoặc Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp;

– Người có công đóng góp với đất nước, bao gồm: người được hưởng chế độ ưu đãi theo quy định của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng có giấy tờ chứng minh được hưởng chế độ ưu đãi do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp; người có thành tích đóng góp trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương, Huy chương, được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen; người tham gia vào Ban Chấp hành các tổ chức chính trị – xã hội của Việt Nam; của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam từ cấp tỉnh trở lên được các tổ chức này xác nhận; người được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương hội, người là nòng cốt các phong trào, tổ chức của kiều bào có quan hệ với trong nước và người có những đóng góp, giúp đỡ tích cực cho các cơ quan đại diện hoặc các hoạt động đối ngoại của Việt Nam ở nước ngoài được Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài hoặc cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài xác nhận;

– Nhà văn hóa, nhà khoa học, bao gồm: người được phong học hàm, học vị về khoa học, giáo dục, văn hóa – nghệ thuật, thể dục – thể thao của Việt Nam hoặc của nước ngoài, các chuyên gia trong lĩnh vực kinh tế – xã hội đang làm việc tại Việt Nam. Các trường hợp này phải được lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Thủ trưởng các trường đại học, cao đẳng, học viện, viện nghiên cứu của Việt Nam mời về làm chuyên gia, cộng tác viên, giảng dạy và có xác nhận của cơ quan, tổ chức mời về việc đối tượng này đang làm việc tại cơ quan, tổ chức đó;

– Người có chuyên môn, kỹ năng đặc biệt có giấy xác nhận về chuyên môn, kỹ năng của hiệp hội, hội nghề nghiệp Việt Nam hoặc của cơ quan cấp Bộ phụ trách lĩnh vực chuyên môn, kỹ năng kèm theo giấy phép hành nghề chuyên môn tại Việt Nam do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp (đối với trường hợp pháp luật yêu cầu phải có giấy phép hành nghề) hoặc Giấy phép lao động do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp (đối với trường hợp pháp luật không yêu cầu phải có giấy phép hành nghề);

– Người có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam sinh sống ở trong nước có giấy tờ chứng nhận kết hôn do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc của nước ngoài cấp kèm theo hộ khẩu thường trú và giấy chứng minh nhân dân của một bên vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam ở trong nước.

Đối với trường hợp có các giấy tờ do nước ngoài cấp thì phải dịch ra Tiếng Việt và có chứng nhận của cơ quan công chứng của Việt Nam.

Ngoài các giấy tờ trên, để thỏa mãn điều kiện quy định tại Điều 126 Luật Nhà ở thì người Việt Nam định cư ở nước ngoài cần có các giấy tờ chứng minh điều kiện cư trú tại Việt Nam theo quy định tại Điều 67 Nghị định số 71/2010/NĐ-CP như sau:

– Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài mang hộ chiếu Việt Nam thì phải có Sổ tạm trú hoặc giấy tờ xác nhận về việc đăng ký tạm trú tại địa phương do công an phường, xã, thị trấn nơi người đó cư trú cấp;

– Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài mang hộ chiếu nước ngoài thì phải có Thẻ tạm trú hoặc có dấu chứng nhận tạm trú đóng vào hộ chiếu với thời hạn được tạm trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên do cơ quan quản lý xuất nhập cảnh của Việt Nam cấp.

Trường hợp của chị hiện nay đang là công dân Mỹ và muốn được nhận chuyển nhượng nhà và đất của mẹ chị đang sinh sống tại Việt Nam thì phải thuộc một trong các đối tượng quy định tại Điều 126 Luật Nhà ở và có các giấy tờ chứng minh như đã nêu ở trên.

Văn phòng Luật sư Bách Đạt và Cộng sự

Quy định về thuế thu nhập khi chuyển nhượng bất động sản

Theo khoản 1 Điều 4 Luật thuế thu nhập cá nhân, thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; anh, chị, em ruột… với nhau là thu nhập được miễn thuế thu nhập cá nhân.

Trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hai vợ chồng bạn nên theo quy định tại Điều 219 Bộ luật dân sự năm 2005, quyền sử dụng đất của mảnh đất trên là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của hai người, mỗi người đều có quyền ngang nhau trong việc sử dụng, định đoạt tài sản chung. Nghĩa là về nguyên tắc, bạn và vợ bạn mỗi người có 50% giá trị quyền sử dụng đất cũng như khả năng định đoạt đối với mảnh đất đó.

Tương tự như vậy, khi vợ chồng em trai của vợ bạn nhận chuyển nhượng quyền sử dụng mảnh đất này thì quyền sử dụng mảnh đất là tài sản chung hợp nhất của vợ chồng em trai vợ bạn và về nguyên tắc mỗi người có 50% giá trị quyền sử dụng đất cũng như khả năng định đoạt đối với mảnh đất đó.

Theo khoản 1 Điều 4 Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007 thì thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau là thu nhập được miễn thuế thu nhập cá nhân (TNCN).

Như vậy, trong trường hợp vợ chồng bạn chuyển nhượng quyền sử dụng mảnh đất này cho vợ chồng em trai của vợ thì chỉ có vợ của bạn được miễn thuế TNCN, còn bạn vẫn có nghĩa vụ nộp thuế. Tuy nhiên, vợ bạn cũng chỉ được miễn thuế phần thuế TNCN đối với phần thu nhập có được do chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho em trai mình, phần thu nhập có được do chuyển nhượng đất đối với vợ của em trai sẽ không được miễn thuế. Do vậy, vợ bạn vẫn phải nộp thuế TNCN tương ứng với 50% thu nhập có được do chuyển nhượng quyền sử dụng đất. (Ví dụ nếu chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho vợ chồng người ngoài, vợ chồng bạn phải nộp khoản thuế TNCN là 10 triệu, trong đó vợ bạn phải nộp khoản thuế TNCN là 5 triệu đồng. Trong trường hợp chuyển nhượng cho vợ chồng người em ruột, vợ chồng bạn chỉ phải nộp khoản thuế TNCN là 7,5 triệu, vì vợ bạn chỉ phải nộp ½ khoản thuế TNCN thuộc phần nghĩa vụ của mình là 2,5 triệu đồng).

Về thủ tục, theo hướng dẫn tại Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và hướng dẫn thi hành Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 8/9/2008 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân thì trong trường hợp vợ chồng bạn chưa được cấp mã số thuế TNCN, hai người cần phải làm thủ tục đăng ký thuế, hồ sơ đăng ký thuế gồm:

– Tờ khai đăng ký thuế theo mẫu số 01/ĐK-TNCN ban hành kèm theo Thông tư số 84/2008/TT-BTC;

– Bản sao có công chứng, chứng thực chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu.

Hồ sơ đăng ký thuế được nộp tại Chi cục thuế nơi vợ chồng bạn cư trú.

Sau khi được cấp mã số thuế TNCN (hoặc đã có mã số thuế TNCN) sẽ tiến hành khai thuế TNCN.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Thông tư số 161/2009/TT-BTC ngày 12/8/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế thu nhập cá nhân đối với một số trường hợp chuyển nhượng, nhận thừa kế, nhận quà tặng là bất động sản thì: Trường hợp chuyển đổi đất cho nhau giữa các cá nhân (ngoài các trường hợp chuyển đổi đất nông nghiệp để sản xuất thuộc đối tượng được miễn thuế thu nhập cá nhân theo quy định tại khoản 6 Điều 4 của Luật Thuế thu nhập cá nhân) thì từng cá nhân chuyển đổi đất phải kê khai nộp thuế thu nhập cá nhân. Sau khi đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất, vợ chồng bạn cần phải kê khai thuế thu nhập cá nhân có được từ việc chuyển nhượng bất động sản. Hồ sơ khai thuế (theo hướng dẫn tại mục II phần D Thông tư số 84/2008/TT-BTC), gồm có:

– Tờ khai thuế thu nhập cá nhân áp dụng đối với cá nhân chuyển nhượng bất động sản theo mẫu số 11/KK-TNCN ban hành kèm theo Thông tư số 84/2008/TT-BTC;

– Bản sao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy tờ chứng minh quyền sở hữu nhà hoặc quyền sở hữu các công trình trên đất;

– Hợp đồng chuyển nhượng bất động sản;

– Trường hợp cá nhân đề nghị được áp dụng tính thuế theo thuế suất 25% trên thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản thì phải xuất trình thêm các chứng từ hợp lệ làm căn cứ chứng minh các loại chi phí sau:

+ Giá vốn của bất động sản;

+ Chi phí xây dựng cải tạo nhà và các công trình trên đất;

+ Các loại phí và lệ phí đã nộp;

+ Các chi phí khác liên quan trực tiếp đến việc chuyển nhượng bất động sản;

Riêng vợ bạn có phần thu nhập được miễn thuế nên phải nộp thêm bản sao sổ hộ khẩu hoặc bản sao giấy khai sinh của người chuyển nhượng và của người nhận chuyển nhượng thể hiện mối quan hệ có chung cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha hoặc các giấy tờ khác chứng minh có quan hệ huyết thống; nếu không có một trong các giấy tờ trên khẩu thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về mối quan hệ giữa vợ ông và em trai vợ ông.

Nơi nộp hồ sơ khai thuế là chi cục thuế nơi có bất động sản chuyển nhượng. Thời hạn nộp thuế ghi trên thông báo thuế.

Văn phòng Luật sư Bách Đạt và Cộng sự

Tài sản chung của vợ chồng gồm những gì?

“Chồng hoặc vợ có tài sản do cha mẹ để lại trước khi kết hôn thì tài sản đó có được coi là tài sản chung của vợ chồng không? Khi ly hôn, tài sản đó được giải quyết thế nào?”. (Lê Lâm)

Văn phòng Luật sư Bách Đạt & Cộng sự trả lời

Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được tặng cho chung trong thời kỳ hôn nhân và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Riêng quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung, nếu có trước khi kết hôn hoặc được thừa kế riêng thì chỉ là tài sản chung khi đôi bên có thỏa thuận. Những tài sản khác có tranh chấp mà các bên không chứng minh được là tài sản riêng thì đó là tài sản chung.

Từ những quy định trên, có thể rút ra:

– Pháp luật Việt Nam công nhận chế độ tài sản riêng của vợ, chồng. Khi hôn nhân đang tồn tại, mỗi bên hoặc cả hai bên đều có quyền chia tài sản hoặc xác định quyền sở hữu riêng.

– Tài sản mà mỗi bên có được trước hôn nhân thì được coi là tài sản riêng của mỗi bên, và khi ly hôn, tài sản riêng của ai thì người đó nhận, không phải chia cho bên kia.

Trong thời kỳ hôn nhân vợ, chồng có quyền có tài sản riêng không? ( Đăng Bình)

Văn phòng Luật sư Bách Đạt & Cộng sự trả lời

Tại Điều 32 Luật Hôn nhân Gia đình năm 2000 quy định:

“1. Vợ, chồng có quyền có tài sản riêng.

Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 và Điều 30 của Luật này; đồ dùng, tư trang cá nhân.

  1. Vợ, chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung”.

Như vậy, trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng vẫn có quyền có tài sản riêng. Tài sản này thuộc quyền định đoạt của riêng mỗi người. Trường hợp ly hôn thì không chia tài sản này.

 

 

 

 

 

By | 2017-11-20T07:49:32+00:00 Tháng Mười Hai 16th, 2015|Văn phòng luật sư|